Soạn thảo Chiến lược
Tự Giải phóng

Gene Sharp
Chuyển ngữ: Tiểu Thạch Nguyễn Văn Thái, Ph,D.

    Vào một lúc nào đó khi đang chiêm nghiệm một cuộc đấu tranh nhằm chấm dứt áp bức thì những người có trách nhiệm soạn thảo một đề cương đại chiến lược cho mục đích đó cần phải được tuyển chọn. Nhân viên của nhóm soạn thảo cần phải được cân nhắc kĩ lưỡng, bởi vì không phải bất cứ ai sốt sắng tham gia là người khôn ngoan và có kĩ năng hơn cả. Những người không chịu đọc các tài liệu về bộ môn này sẽ không thích hợp. Những người từ bên ngoài không thể hiểu thấu đáo về đất nước và xã hội mình, không nên đưa vào tiến trình soạn thảo.

    Sự tham gia vào việc lập kế hoạch cho một cuộc đấu tranh bất bạo động trong tương lai của những người thiếu thông tin, giáo điều, và cho mình là trung tâm, có thể đưa đến thảm hoạ. Thêm nữa, điều rất quan trọng là những người làm kế hoạch không được là những người có những động lực riêng tư có thể ảnh hưởng đến tiến trình lập kế hoạch.

    Nói một cách tích cực, những người soạn thảo phải là những người đã chứng tỏ được khả năng suy tư và lập kế hoạch một cách chiến lược. Hầu hết mọi người, ở một lúc nào đó, đều không có khả năng này.

    Việc soạn thảo, dĩ nhiên, chỉ sẽ đến sau khi đã đọc rất nhiều, phản hồi, và suy tư như đã phác hoạ trong tài liệu này.

    Nhất là nhân viên soạn thảo phải giỏi cả về việc đưa ra một đại chiến lược lẫn những chiến lược cho các chiến dịch cục bộ có giới hạn.

    Sự khắc nghiệt của áp bức cực đoan sẽ làm cho việc thành lập cũng như điều hành một nhóm soạn thảo chiến lược hết sức khó khăn và thường rất nguy hiểm. Một vài người có thể cần phải trốn tránh bắt bớ. Những người đối kháng thường gặp khó khăn trong việc hội họp. Trong số những người đối kháng có thể có điểm chỉ viên, hoặc các chuyên viên khiêu khích.

    Những nhóm lập kế hoạch đối kháng có lúc đã có thể sinh hoạt ở những nơi thường ít bị nghi ngờ nhất. Tại Na Uy (Norway) thời bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, mười hai người họp mặt ngay tại thủ đô đã lập thành một nhóm lãnh đạo bí mật cho đất nước họ. Ngay tại Đức, có những người bí mật mưu đồ giết Hitler. Gần tổng hành dinh của Gestapo tại Berlin, hằng ngàn phụ nữ tụ họp phía ngoài nhà lao tạm thời, đòi hỏi thả những người chồng Do Thái của họ. Họ đã thắng.

    Trong một vài hoàn cảnh, những người lưu vong có thể hữu ích. Những kĩ thuật truyền thông mới cũng có thể hỗ trợ việc lập kế hoạch được thận trọng.

    Những người nghi ngờ có thể dẫn chứng là việc lập kế hoạch chiến lược ở tầm mức này và với chiều sâu như thế, để xúc tiến đấu tranh bất bạo động nhằm đạt giải phóng, chưa từng được thực hiện trước đây. Họ có thể ngay cả cho việc lập kế hoạch như thế là không cần thiết.

    Việc lập kế hoạch chiến lược có thể được thực hiện thường xuyên hơn là người ta nghĩ. Ở nơi nào hoàn cảnh cho phép thì mục đích của nhóm soạn thảo có thể là đưa ra một bản thảo cho một đại chiến lược, sau đó sẽ được thẩm định bởi một nhóm khoáng đại hơn.

    Trong một vài hoàn cảnh ngặt nghèo, thẩm định bản thảo của một đại chiến lược bởi một nhóm khoáng đại hơn có thể không thực hiện được. Tuy nhiên, dưới những chế độ cực đoan thì một nhóm chiến lược nhỏ nhưng khôn ngoan đôi khi vẫn có thể lập được kế hoạch và phổ biến hướng dẫn cho hành động. Những khuyến cáo của họ có thể được thử thách bằng cách đo lường phản ứng của quần chúng đối với lời kêu gọi tham gia vào một hành động rất nhỏ nhưng gây được chú ý mà tương đối an toàn, không cần chỉ đạo tiếp theo. Phản ứng này có thể cho biết là cần thêm thời gian trước khi leo thang chống đối hay là dân chúng đã sẵn sàng cho một hành động mạo hiểm hơn.

    Nếu thẩm định là có thể thực hiện được thì bản thảo có thể được chấp thuận, trả lui để được sửa đổi lại, hoặc xếp lại một bên và yêu cầu một đề cương mới cho đại chiến lược.

Những quyết định cơ bản v chiến lược

    Ngay ở giai đoạn đầu của các cuộc bàn luận, nhóm kế hoạch chiến lược sẽ cần phải quyết định, ít nhất là một cách tạm thời, là họ nhắm sẽ sử dụng cách thức hành động bất bạo động nào: cải hoá, thích nghi,cưỡng ép bất bạo động, hay phân huỷ. Trong bối cảnh của những nền độc tài và áp bức nghiêm trọng khác thì hầu như chủ điểm chắc chắn phải là cưỡng ép bất bạo động hoặc là phân huỷ.

    Những người soạn bản thảo đại chiến lược sẽ cần phải cân nhắc xem là chỉ một cuộc đấu tranh bất hợp tác và thách thức lớn duy nhất, có kỉ luật, có thể phân huỷ được nền độc tài hùng mạnh hay hệ thống áp bức hay không. Dù sao thì điều này thật là hiếm, và khó mà chắc chắn được. Không được như vậy thì cần phải lập kế hoạch làm thế nào để khởi công cuộc đấu tranh và làm sao để tập trung vào những cuộc đấu tranh có giới hạn và xúc tiến những cuộc đấu tranh này.

    Những vấn đề nêu lên cho các chiến dịch có giới hạn nên là những vấn đề có thể khơi động được sự hỗ trợ rộng lớn trong khắp toàn dân. Những vấn đề được chọn cũng nên là những vấn đề được xem là có thể biện minh được một các rõ ràng, và phải là những vấn đề mà chính quyền khó mà phủ nhận được. Những vấn đề này thường cũng phải là những vấn đề mà chính quyền có thể miễn cưỡng nhượng bộ hay là chính quyền phải bị đánh bại vì dân chúng được đã tăng cường tự lực.

    Cần phải rất thận trọng trong việc chọn lựa các phương pháp hành động cá biệt để áp dụng ở những giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh. Có nhiều phương pháp cá biệt trong kĩ thuật hành động bất bạo động, nhưng không phải tất cả đều là những lựa chọn khôn ngoan cho một cuộc xung đột nào đó. Vài phương pháp chứng tỏ là những lựa chọn tệ hại, chỉ một số ít là có thể đóng góp đắc lực vào việc đạt được thành công. Những phương pháp để được sử dụng cần phải có khả năng giúp đạt được các mục tiêu của những người đối kháng và giúp thực thi chiến lược đã được lựa chọn.

Để bàn về các nhân tố liên quan đến việc chọn phương pháp sử dụng, mi đọc The Politics of Nonviolent Action [Chính Trị của Hành Động Bất Bạo Động] tt. 502-506. Số trang: 5.

    Sau này, khi cuộc xung đột mở rộng thì cả kích thước của các hoạt động lẫn những mục tiêu rõ rệt của các chiến dịch có thể được bành trướng.  Những phản công của chế độ, đặc biệt là đàn áp, cũng có thể trở nên khắc nghiệt hơn, nhất là khi đối kháng áp đặt lên chính quyền áp bức những hao tổn càng lúc càng gia trọng.

    Kiến thức và sự hiểu biết có thể thủ đắc được nhờ những sách đọc được, ấn định trong cẩm nang này, sẽ giúp những người vạch kế hoạch quyết định là họ cần thực hiện thêm những công tác nào và lập thêm kế hoạch nào.

Thiết lập một đại chiến lược 

     Việc cân nhắc các vấn đề tranh chấp và những lợi thế sẵn có của những người có thể sẽ đối kháng cần phải hướng dẫn sự khai triển những đặc tính chính yếu của đại chiến lược.

  • Những ưu điểm và nhược điểm của hai phe đối nghịch so sánh với nhau như thế nào?
  • Những vấn đề nào khẩn thiết đòi hỏi phải có hành động?
  • Những lợi thế chính yếu nào phải được những người đối kháng sử dụng?
  • Những vấn đề tranh chấp và các lợi thế sẵn có có tương ứng với nhau không?
  • Những lợi thế sẵn có của những người đối kháng liên hệ với sự hình thành đại chiến lược cho những người đối kháng như thế nào?
  • Những lợi thế sẵn có của những người đối kháng liên hệ với những nhược điểm tìm thấy ở đối phương như thế nào?
  • Những cột trụ chống đỡ nào của độc tài có thể bị làm suy yếu khi áp dụng những lợi thế sẵn có của những người đối kháng?

    Tất cả kiến thức và sự thông hiểu đã được bành trướng này sẽ giúp những người lập kế hoạch chiến lược đưa ra được một đại chiến lược khôn ngoan.

    Đại chiến lược được soạn thảo cho cuộc đấu tranh sẽ làm nền tảng cho việc xúc tiến cuộc đụng độ trong tương lai. Chiến thuật và phương pháp quan trọng nhưng thứ yếu.

Để thảo luận những yếu tố căn bản trong việc thiết kế chiến lược, ôn lại: The Politics ofNonviolent Action, [Chính Trị của Hành Động Bất Bạo Động] tt. 496-512. Không đọc thêm tài liệu mới.

Về trình bày những vấn đề và nguyên tắc chiến lược xuyên qua tiến trình đấu tranh, mời đọc:Waging Nonviolent Struggle, [Tiến Hành Đấu Tranh Bất Bạo Động] tt. 448-515. Số trang: 68. Tổng số trang đến chỗ này: 822. 

    Bản thảo đại chiến lược đầu tiên của những người lập kế hoạch, tiên khởi có thể được hướng dẫn bởi suy tư của nhiều người, nhưng bản thảo cuối cùng có thể chỉ do một người hay một toán soạn ra. Một khi được thảo xong, bản thảo cần phải được cân nhắc cẩn trọng bởi một nhóm đông hơn. Mọi thành viên của nhóm này cần đã có nghiên cứu tất cả những sách đọc được chỉ định. Nếu bản thảo đại chiến lược đầu tiên xét ra là không thích hợp thì đòi hỏi cần phải hoàn toàn bắt đầu lại ngay từ đầu, hoặc ít nhất là phải sửa lại rất nhiều. Nhưng nếu bản thảo đầu tiên được xét là gần như đi đúng đường thì có lẽ, ở giai đoạn này, chỉ cần những điều chỉnh tương đối giới hạn mà thôi.

    Nếu đại chiến lược được thiết lập một cách khôn ngoan và áp dụng một cách tài tình thì rất có cơ may là những người đối kháng sẽ tăng rất nhiều cơ hội có thể phát động được một phong trào giải phóng hữu hiệu.

Tự cường 

    Trong nhiều trường hợp dân chúng sống dưới sự áp bức cùng cực có thể cảm thấy yếu kém và bất lực so với sức mạnh của áp bức, không thể đối đầu nổi với hệ thống thống trị. Công việc này thì thường được xem như là quá to tát, và quá nguy hiểm. Dân chúng cảm thấy không thể thắng được một lực lượng chênh lệch quá lớn như vậy. Ngược lại, người dân chú trọng hơn hết vào những nỗ lực đơn giản đòi hỏi cần có để sống cho được thật thoải mái. Do đó người dân bị áp bức phần lớn thụ động. Tình trạng này thường được gọi một cách sai lầm là “thờ ơ”. Thực ra đó chỉ là tình trạng bất lực.

    Cần thận trọng khi khuyến cáo hành động trong khi người dân cảm thấy bất lực. Nếu ở giai đoạn này mà người dân vẫn bị xúi dục chống đối công khai vượt khả năng của họ, thì sự thất bại có thể đoán trước được của họ sẽ chứng minh cho họ thấy là sự yếu kém của họ còn tệ hơn là họ từng nghĩ trước đây. Sẽ mất một thời gian lâu người dân mới có thể hành động trở lại được.

    Tuy nhiên, hành động có giới hạn trong khả năng của họ lại là một chuyện khác. Điều này có thể thực hiện được. Trong một giai đoạn quan trọng của cuộc đấu tranh chống lại nền cai trị phân biệt chủng tộc tại Nam Phi, người ta không thể động viên được dân Nam Phi hành động chống lại nền thống trị quá mạnh, Mosiuoa Patrick Lekota đã phúc trình như thế năm 1990.19

___________________________________________________________

19Mosiuoa Patrick Lekota, lúc bấy giờ thuộc the United Democratic Front [Mặt Trận Dân Chủ Thống Nhất], nói chuyện tại the National Conference on Nonviolent Sanctions in Conflict and Defense [Hội Nghị Quốc Gia về Trừng Phạt Bất Bạo Động trong Xung Đột và Phòng Vệ], Ngày 8-11 tháng Hai, 1990. Cambridge, Massachusetts, do Viện Albert Einstein bảo trợ.

___________________________________________________________

 Trong hoàn cảnh này, người châu Phi đã tạo lập những tổ chức dân sự như là the Soweto Civic Association [Hiệp Hội Công Dân Soweto], để đấu tranh cho những mục tiêu giới hạn, Lekota phúc trình tiếp. Những “hiệp hội công dân” này chọn những vấn đề rõ rệt, như là “không có nước, hoặc… không đủ điện. Từ ‘chính trị’ phải được bỏ ra một bên… Người ta có thể nói được, ‘chính phủ phải cho chúng tôi có nước…’”

    Cũng như thế, người dân châu Phi ở tại một địa điểm đã được khuyến khích nên tổ chức để có được một cái giếng cung cấp nước sạch. Cả người lớn lẫn trẻ con trước đó đã bị bệnh vì uống phải nước ô nhiễm. Chỉ nhờ một vấn đề duy nhất này mà người châu Phi đã hành động và thắng cuộc. Qua hành động của chính mình, họ đã tăng cường tự lực, gây được niềm tin là họ có thể đạt được những mục đích to lớn hơn.

    Bài học ở đây là khi đấu tranh chống lại áp bức có tầm cỡ thì sự khôn ngoan là nhằm đánh vào một biểu tượng rõ rệt có giới hạn của vấn đề lớn. Tiêu điểm giới hạn của cuộc tấn công do đó cần phải được cân nhắc thận trọng. Những tiêu điểm khả hữu nhưng có thể được dễ dàng xét thấy là không nên thì cần phải được loại bỏ. Vấn đề cụ thể được lựa chọn cần phải được xem như là có thể biện minh được một cách hiển nhiên.20

___________________________________________________________

20Xem Gene Sharp, The Politics of Nonviolent Action [Chính Trị của Hành Động Bất Bạo Động], tt. 471-473.   

__________________________________________________________  

  Sức mạnh của mình phải được tập trung đánh vào các điểm yếu nhất của đối phương theo những phương cách có thể đem lại thắng lợi hơn cả.

Về thảo luận làm sắc bén tiêu điểm để tấn công, mời đọc: The Politics of Nonviolent Action,[Chính Trị của Hành Đng Bt Bạo Động] tt. 471-473. Số trang: 3.

    Vào lúc khởi đầu của cuộc đấu tranh dài hạn, quần chúng có thể vẫn còn tranh thủ được cả tự tin lẫn kinh nghiệm trong việc động viên tiềm năng sức mạnh của họ thành sức mạnh gây được hiệu quả. Những thành công giới hạn có tiếng vang ở giai đoạn này có thể vừa có tiềm năng giải quyết được những vấn đề cụ thểvừa tăng cường được sức mạnh cho dân chúng. Những điều này sẽ gia tăng cơ hội đạt được giải phóng rất nhiều.

    Trong thời gian của những cuộc đấu tranh giới hạn này, nền độc tài hay hệ thống áp bức càng lúc càng trở nên yếu thế. Thành công trong những chiến dịch có giới hạn ở giai đoạn này có thể hỗ trợ rất nhiều cho sự tăng trưởng của một phong trào dân chủ không còn cưỡng lại được nữa.

    Trong một vài hoàn cảnh khi mà ý thức về sự bất lực không thái quá thì đưa ra những đòi hỏi rõ rệt cũng vẫn có thể hữu ích. Trong chiều hướng này, vào năm 1930 khi lập kế hoạch cho chiến dịch thực sự giành độc lập cho Ấn Độ, Gandhi đã đưa ra mười một đòi hỏi rõ rệt. Trong số này có đòi hỏi huỷ bỏ thuế muối. Các nhà lãnh đạo Quốc Hội Quốc Gia Ấn tỏ vẻ nghi ngờ. Gandhi xác định là những đòi hỏi này, một khi đạt được, sẽ mang lại chất liệu cho nền độc lập.21 Thực tế là cuộc đấu tranh cho những mục tiêu rõ rệt thường giúp động viên dân chúng Ấn Độ đồng thời làm suy yếu nền cai trị thực dân của người Anh.

__________________________________________________________

21Xem Sharp, Gandhi Wields the Weapon of Moral Power, [Gandhi Dương Vũ Khí Sc Mạnh Đạo Đức] tt. 59-60 v à 71-72. Ahmedabad: Navavian, 1960

___________________________________________________________

    Hầu như luôn luôn là trong một cuộc đấu tranh giải phóng, sự xung đột dài hạn cần phải được xúc tiến theo từng giai đoạn một, mỗi giai đoạn được xây dựng trên những nỗ lực đi trước, tuỳ vào khả năng hành động của dân chúng và tuỳ hoàn cảnh đòi hỏi. Mỗi giai đoạn có thể được hoàn tất bởi một chiến dịch tập trung vào việc đạt cho được một mục tiêu duy nhất hay là rất ít mục tiêu.

    Trong mỗi chiến dịch, những người vạch kế hoạch chiến lược sẽ cần phải chọn một điểm, hay rất ít điểm tấn công. Những điểm này cần phải là những khía cạnh rõ rệt của vấn đề rộng lớn hơn biểu tượng cho cái “ác”, một lãnh vực khó biện minh hơn cả, và có thể cần phải huy động dốc toàn lực để chống lại cái ác này.

    Trong hầu hết mọi trường hợp, những nỗ lực nhằm dẹp bỏ độc tài hay sự áp bức đòi hỏi phải có vài ba chiến dịch có giới hạn nhắm đến một số vấn đề có giới hạn. Những thành công trong những chiến dịch này không những chỉ sửa sai những sai quấy rõ rệt được nêu ra. Những chiến dịch này còn đóng góp vào việc tăng khả năng sức mạnh của những người đối kháng đồng thời giảm thiểu sức mạnh hữu hiệu của đối thủ.

    Trong một vài trường hợp hãn hữu, một chiến dịch cho một vấn đề có giới hạn lại được tiếp đón một cách bất ngờ bằng sự bất hợp tác và thách đố mạnh mẽ đến độ kết quả là sức mạnh càn quét toàn bộ hệ thống áp bức. Tuy nhiên, những người lập kế hoạch chiến lược tương lai không nên trông cậy vào một diễn biến như thế.

    Trong những hoàn cảnh hãn hữu dân chúng có thể đã tin vào tiềm năng sức mạnh của mình. Họ có thể đã có được tự tin và khả năng để bỏ băng những chiến dịch cho những khiếu nại có giới hạn và sẵn sàng hành động chấm dứt toàn bộ hệ thống áp bức. Những cuộc đấu tranh giành độc lập của ba quốc gia vùng Baltic đạt đỉnh thành công năm 1991 là những thí dụ điển hình. Tuy nhiên, những chuyện có thể xảy ra này là những trường hợp ngoại lệ. Hầu như luôn luôn đòi hỏi phải có những chiến dịch cho những vấn đề có giới hạn.

Leo thang giải phóng 

    Khởi đầu cho một cuộc đấu tranh dài hạn chống lại một nền độc tài hay một áp bức nào khác, cần phải thực hiện những hành động tiên khởi nhỏ hẹp nhằm đạt những mục tiêu có giới hạn. Những hành động này nên là những hành động đòi hỏi ít mạo hiểm và có thể tiến hành trong những thời hạn ngắn. Những hành động này có thể lôi kéo được sự chú ý và phát động được cuộc đấu tranh, mà nhiều khi không đưa những người tham gia vào vòng nguy hiểm trầm trọng. Những hành động nhỏ hẹp này có thể không những gây thắng lợi về những vấn đề nêu lên mà còn đóng góp vào việc làm chuyển đổi có giới hạn về các tương quan lực lượng.

    Sau này, khi cuộc xung đột mở rộng, thì cả kích thước của các hoạt động lẫn những mục tiêu rõ rệt của các chiến dịch có thể được bành trướng. Những phản công của chế độ, nhất là đàn áp, có thể trở nên khắc nghiệt hơn. Điều này đặc biệt là trường hợp sẽ xảy ra khi mà sự đối kháng áp đặt lên chế độ áp bức những hao tổn càng lúc càng trầm trọng.

    Chiến lược vạch ra cần phải đánh bật được, trực tiếp hoặc gián tiếp, những cột trụ chống đỡ của chế độ đàn áp, như đã thảo luận trước đây. Sự đánh bật này có thể là làm teo lại hay cắt đứt việc cung cấp những nguồn sức mạnh cần thiết. Điều này đã xảy ra tại Serbia trong cuộc đấu tranh chống lại độc tài Milosevic: trước tiên là làm mất đi tính hợp pháp, rồi dân chúng đi từ thụ động đến bất hợp tác và thách thức, và sau cùng là các lực lượng đàn áp của chế độ trở nên không còn đáng tin cậy được nữa. Khi mà các nguồn sức mạnh của các nền độc tài bị cắt đứt thì chế độ phải đối diện với sụp đổ.

     Điều này có xảy ra hay không phần lớn tuỳ thuộc vào việc chiến lược vạch ra có được khôn ngoan hay không và vào việc chiến lược này có được áp dụng một cách tài tình hay không. 

Những bước tiến đến việc có thể xảy ra được 

    Bất luận những khó khăn, những hành động này nằm trong khả năng của những người gọi được là bình thường. Họ có khả năng học hỏi, suy tư, làm việc cần mẫn, và xây dựng những căn cứ lực lượng của họ, và chuẩn bị giỏi giang. Các kế hoạch gia cần tính toán điều họ cần làm để đạt những mục đích của những người này. Tiếp đến là đòi hỏi cần phải có những hành động can đảm. Những người đối kháng sẽ cần phải tiến hành một cách có hệ thống, từng bước một, đến mục đích của mình. Nếu tất cả những điều này được thực hiện một cách khôn ngoan và khéo léo thì kinh nghiệm có thể khẳng định là người dân bị áp bức có thể trở nên tin tưởng hơn vào những khả năng tự giải phóng của họ.

    Cứu cánh ở đây, cho đến bây giờ, là tìm hiểu làm sao người ta có thể vượt quá kinh nghiệm quá khứ, mà không lệ thuộc vào những vị cứu tinh chính trị có thể không bao giờ đến, hoặc không phải bao giờ cũng khôn ngoan.

  • Làm sao người ta vừa tăng được xác suất thành công lâu dài chống lại ngay cả những những chế độ tàn bạo nhất, vừa đồng thời giảm thiểu được tổn thất.
  • Làm thế nào để người ta tự giải phóng và phát huy khả năng ngăn chặn sự trở lại của bất cứ hệ thống áp bức nào đồng thời tiến hành xây dựng được một xã hội tự do, dân chủ, và công bằng hơn?

    Những khuyến cáo về việc lập kế hoạch chiến lược trong tài liệu này được trình bày là để làm cho cuộc đấu tranh bất bạo động nhằm đánh sập một hệ thống áp bức có hiệu quả hơn là các nỗ lực ứng biến trong quá khứ. 

Ngăn chặn một nền độc tài mới 

    Nếu mục đích của cuộc đấu tranh của những người đối kháng là thay thế một hệ thống áp bức bằng một hệ thống dân chủ, tự do, và công bằng hơn thì cũng cần phải tính toán làm thế nào để ngăn chặn sự thành công tiên khởi này khỏi bị một cuộc đảo chánh đánh cắp đi. Đảo chánh có thể xảy ra trong lúc cuộc đấu tranh đang diễn tiến hay ở đoạn cuối của cuộc xung đột.

    Khi nền độc tài hay sự áp bức bị suy yếu trầm trọng, hay chế độ có những dấu hiệu do dự, hoặc làm những lỗi lầm trong những nỗ lực nhằm chấm dứt phong trào ủng hộ dân chủ thì đảo chánh lúc đó có thể được phát động. Đôi khi đảo chánh có thể được khởi sự bởi những phần tử ngay trong lòng chế độ, như đã xảy ra tại Ba Lan bởi Tướng Wojciech Jaruzelski vào tháng 12 năm 1981. Giữa lúc cuộc đấu tranh bất bạo động vĩ đại của công đoàn Đoàn Kết đang diễn tiến thì rõ ràng là ngay cả Đảng Cộng Sản cũng không còn đáng tin cậy được nữa và đang trên bờ sụp đổ.

    Một cuộc đảo chánh cũng có thể được thực hiện với ý đồ nghiền nát phong trào đấu tranh bất bạo động một cách tàn nhẫn và bảo toàn nền độc tài hoặc áp bức. Điều này được thực hiện tại Miến Điện vào tháng Chín năm 1988, sau khi cuộc đấu tranh bất bạo động đã hạ bệ ba chính phủ do quân đội quản lí, và trong lúc những nhà lãnh đạo dân chủ không thể thoả thuận được ai là người trong số những nhà lãnh dạo này sẽ lãnh đạo chính quyền dân chủ mới.

    Một chuyện có thể xảy ra khác là tiếp theo sự thành công lật đổ một nền độc tài, một nhóm biệt lập nào đó với những ý đồ và mục đích riêng tư có thể trong thời gian bất ổn chính trị cố giành lấy quyền quản lí bộ máy Nhà Nước cho những mục đích riêng tư của họ. Họ có thể nhắm làm những ông chủ mới. Đây là điều mà cánh Bolsheviks làm ở tại Nga năm 1917, tiếp theo sau sự thành công chủ yếu bất bạo động của Cách Mạng Tháng Hai chấm dứt hệ thống Nga hoàng.

    Những người lập kế hoạch chiến lược cho một cuộc đấu tranh bất bạo động để có thay đổi dân chủ cần phải đưa vào những điều khoản nhằm làm thế nào để ngăn chặn và đánh bại một cuộc đảo chánh bất luận những mục tiêu do nhóm đảo chánh xác định là gì.

Phân tích và chương trình ngăn chặn và đánh bại đảo chánh trong: Gene Sharp và Bruce Jenkins, “The Anti-Coup,” [Chống Đảo Chánh] tt. 1-53. Số trang: 53. Tổng số trang: 878.  

Giải Phóng, chứ không phải là sự toàn hảo 

    Thành công lật đổ một nền độc tài, hay áp bức, sẽ không tức khắc tạo ra một hệ thống gần như toàn hảo được. Tuy nhiên, nó sẽ là một tiến bộ lớn đối với quá khứ, và trật tự cũ phần lớn sẽ không còn nữa. Trật tự chính trị mới sẽ là một trật tự có thể cho phép những tiến bộ cấp tiến phát triển và thành công, theo như những nhu cầu của xã hội và những quyết định phổ biến đòi hỏi. Con đường phải được rộng mở cho việc xây dựng một hệ thống bền vững, tự do, dân chủ và được nhiều người tham gia.

    Đòi hỏi cần phải có thêm nhiều nỗ lực xây dựng dựa trên nền tảng của cơ hội này để tiếp tục thực hiện những tiến bộ trong xã hội.22 Những nỗ lực này có thể bao gồm:

___________________________________________________________

22Để thảo luận về cách làm thế nào việc sử dụng hành động bất bạo động đóng góp được vào việc phân phối sức mạnh hữu hiệu trong xã hội, mời xem Gene Sharp, Social Power and Political Freedom, [Sức Mạnh Xã Hội và Tự Do Chính Trị] tt, 309-378. 

___________________________________________________________ 

  • Chuẩn bị ngăn cản và đánh bại những mưu toan mới nhằm phá hoại công trình tăng sức mạnh chính trị dân chủ, xã hội, và kinh tế, và nhằm áp đặt áp bức mới.
  • Làm hồi sinh và tăng sức mạnh cho những tổ chức dân sự hiện hữu.
  • Xây dựng những tổ chức mới, công minh hơn và tăng cường khả năng của các tổ chức dân sự một cách tổng quát để đáp ứng những nhu cầu của xã hội bên ngoài cơ cấu Nhà Nước.

    Tất cả những nỗ lực phụ thêm này, tiếp theo sau một cuộc giải phóng tiên khởi quan trọng, sẽ rất ít khó khăn hơn là dưới chế độ cũ.

    Dân chúng cũng sẽ có kinh nghiệm trong việc xúc tiến đấu tranh bất bạo động hơn trước. Hơn nữa, dân chúng cũng sẽ phải đã tăng sức mạnh cho những tổ chức dân chủ xã hội, kinh tế, và chính trị qua đó họ có thể hành động nhằm giải quyết những vấn đề còn lại, và còn phải thành công trong việc đối đầu với những thử thách mới nữa.

    Những công việc, được trình bày trong cẩm nang này, cho những người hay những nhóm người muốn lập một kế hoạch chiến lược giải phóng những người đang sống dưới một nền độc tài hay một áp bức nào khác, thật là lớn lao. Một vài người sẽ chán nản và nghi ngờ khả năng của họ trong việc thực hiện những công việcnày và trong việc thực sự soạn thảo một đại chiến lược để tự giải phóng.  

    Tuy nhiên, với kiến thức và hiểu biết đã được khai mở, và với những cố gắng từng bước một, thì nỗ lực trước đây không thể thực hiện được bây giờ được nhận dạng là một chuỗi công việc có thể hoàn thành được.

    Mục đích toàn bộ làm cho nỗ lực này xứng đáng công lao.

    Qua những phân tích có cơ sở và lập kế hoạch thận trọng, hành động có kỉ luật và can đảm, thì những người đối kháng có thể tiến từ một hệ thống áp bức đến một xã hội tiến bộ được xây dựng trên nền tảng trách nhiệm và tự do.

___________________________________

Phụ Lục Một

Sách đọc thêm 

Robert L. Helvey, On Strategic Nonviolent Conflict [Về Đấu Tranh Bất Bạo Động Chiến Lược]. Boston: Viện Albert Einstein, 2004.

Gene Sharp and Bruce Jenkins, “The Anti-Coup.”[“Chống Đảo Chánh] Boston: Viện Albert Einstein, 2003.

Gene Sharp, “From Dictatorship to Democracy: A Conceptual Framework for Liberation”[“Từ Độc Tài Đến Dân Chủ: Một Khung Ý Niệm cho Giải Phóng”] Bangkok: Committee for the Restoration of Democracy in Burma[Uỷ Ban Phục Hồi Dân Chủ tại Miến Điện], 1993. Boston: Viện Albert Einstein, 2003 và 2008.

Gene Sharp,Social Power and Political Freedom [Sức Mạnh Xã Hội và Tự Do Chính Trị]. Boston: ExtendingHorizons Books, Porter Sargent Publishers, 1980.

Gene Sharp, The Politics of Nonviolent Action (3 vols.) [Chính Trị của Hành Động Bất Bạo Động (3 tập)]. Boston: Extending Horizons Books, Porter Sargent Publishers, 1973 và những ấn bản về sau này.

Gene Sharp, “There Are Realistic Alternatives.”[“Có Những Giải Pháp Thay Thế Thực Tiễn”] Boston: Viện Albert Einstein, 2003.

Gene Sharp, Waging Nonviolent Struggle: 20th Century Practice and 21st Century Potential [Tiến Hành Đấu Tranh Bất Bạo Động: Thực Hành của Thế Kỉ 20 và Tiềm Năng của Thế Kỉ 21]. Boston: Extending Horizons Books, Porter Sargent Publishers, 2005.

Phụ Lục Hai

 

Danh Mục những Từ Quan Trọng trong Đấu Tranh Bất Bạo Động*

__________________________________________________________

*Văn bản này được phân phát ra theo những mục đích của Viện Albert Einstein và do đó không được ấn hành hay chuyển ngữ mà không có văn thư cho phép của Gene Sharp, Viện Albert Einstein, 427 Newbury Street, Boston, MA 02115-1801. Đây Là những trích đoạn rất giới hạn từ một bản thảo dài hơn nhiều đang được biên soạn.

Ngày 17 tháng 6 năm 2002.

by Gene Sharp

___________________________________________________________

THÍCH NGHI (ACCOMMODATION): Một phương thức tạo thay đổi của hành động bất bạo động theo đó đối thủ quyết định, trong lúc họ vẫn còn lựa chọn được, đồng ý về một thoả hiệp và chấp nhận một số đòi hỏi của những người đối kháng bất bạo động. Thích nghi xảy ra khi đối thủ chưa thay đổi quan điểm của họ và cũng chưa bị cưỡng ép bằng bất bạo động, nhưng kết luận là nên giải quyết bằng thoả hiệp.

     Thích nghi có thể là kết quả từ những ảnh hưởng mà, nếu cứ tiếp tục, có thể đưa đến cải hoá, cưỡng ép bất bạo động, hay phân huỷ hệ thống hoặc chế độ của đối thủ.

UY QUYỀN (AUTHORITY): Là phẩm chất điều hướng những xét đoán, những quyết định, những khuyến cáo, và những lệnh của một số cá nhân và cơ chế nào đó được người ta tự nguyện chấp nhận là đúng và do đó có thể được người khác ứng dụng nhờ sự tuân phục và hợp tác. Uy quyền là nguồn sức mạnh chính trị chính yếu, nhưng không cùng đồng nghĩa.

TẨY CHAY (BOYCOTT): Bất hợp tác về xã hội, kinh tế, hoặc chính trị.

KHƯỚC TỪ NGHĨA VỤ CÔNG DÂN (CIVIC ABSTENTION): Đồng nghĩa với các hành vi bất hợp tác chính trị.

HÀNH ĐỘNG CÔNG DÂN (CIVIC ACTION): Đồng nghĩa với hành động bất bạo động xúc tiến vì những mục đích chính trị.

THÁCH THỨC DÂN SỰ (CIVIC DEFIANCE): Những hành vi khẳng định phản đối bất bạo động, đối kháng hoặc can dự được xúc tiến vì những mục đích chính trị.

ĐÌNH CÔNG DÂN SỰ (CIVIC STRIKE): Ngưng hẳn hoạt động về kinh tế được xúc tiến vì mục đích chính trị. Không những công nhân có thể đình công, mà quan trọng là sinh viên, chuyên viên, chủ tiệm, nhân viên bàn giấy (bao gồm cả công chức), và những thành viên ở nấc thang cao cấp trong xã hội cũng thường tham gia.

BẤT TUÂN DÂN SỰ (CIVIL DISOBEDIENCE): Cố tình vi phạm bằng phương thức hoà bình một số đạo luật nào đó, một số nghị định, điều lệ, sắc lệnh, hay lệnh của quân đội hay của cảnh sát, hay những điều tương tự.

     Đây thường là những luật lệ được xem là hiển nhiên trái với đạo đức, không công bằng, hay là bạo ngược. Tuy nhiên, đôi khi có những luật chủ yếu chỉ có tính quy lệ hay trung dung về đạo đức cũng có thể được bất tuân như là một biểu tượng chống lại những chính sách rộng lớn hơn của chính quyền.

ĐỐI KHÁNG DÂN SỰ (CIVIL RESISTANCE): Đồng nghĩa với đối kháng bất bạo động

CẢI HOÁ (CONVERSION): Một thay đổi về quan điểm của các đối phương mà hành động bất bạo động đang được xúc tiến chống lại bằng cách làm cho họ trở nên tin tưởng là chấp nhận những mục tiêu của nhóm người bất bạo động là đúng. Đây là một trong bốn phương thức tạo thay đổi của hành động bất bạo động.

PHÂN HUỶ (DISINTEGRATION): Phương thức tạo thay đổi thứ tư của hành động bất bạo động, theo đó các đối thủ không những chỉ bị cưỡng ép mà hệ thống hay chính quyền của họ bị phân huỷ và sụp đổ do kết quả của sự bất hợp tác và thách thức ồ ạt. Các nguồn sức mạnh bị hạn chế hoặc bị cắt đứt bởi sự bất hợp tác cực độ đến nỗi hệ thống hoặc chính quyền của đối thủ phải tan vỡ.

NGƯNG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ (ECONOMIC SHUT-DOWN): Ngưng những sinh hoạt kinh tế của một thành phố, một khu vực, hay một quốc gia ở tầm mức đủ để đưa đến tê liệt về kinh tế. Động lực thường là chính trị.

     Điều này có thể thực hiện được bằng một cuộc tổng đình công của công nhân trong lúc ban quản trị, thương nghiệp, các cơ sở thương mại, và các chủ tiệm nhỏ đóng cửa và ngưng các sinh hoạt kinh tế của họ.

TỰ DO (CHÍNH TRỊ) (FREEDOM (POLITICAL)): Một hoàn cảnh chính trị cho phép cá nhân được tự do lựa chọn và hành động và cũng cho phép cá nhân và nhóm được tham dự vào những quyết định và điều hành xã hội và hệ thống chính trị.

ĐẠI CHIẾN LƯỢC (GRAND STRATEGY): là quan niệm rộng lớn nhất về cách làm thế nào để đạt được một mục tiêu trong một cuộc xung đột bằng một phương thức hành động đã được chọn lựa. Đại chiến lược nhằm phối hợp và điều hướng tất cả những tài nguyên thích hợp và sẵn có (nhân lực, chính trị, kinh tế, đạo đức, v.v…) của nhóm để đạt các mục tiêu của cuộc xung đột.

     Vài chiến lược có giới hạn hơn có thể được áp dụng trong khuôn khổ đại chiến lược để đạt những mục tiêu đặc biệt nào đó của những giai đoạn phụ thuộc của cuộc đấu tranh toàn diện.

NHÓM KHIẾU NẠI (GRIEVANCE GROUP): Nhóm quần chúng mà những khiếu nại của họ là những vấn đề được nêu lên trong cuộc xung đột và được những người đối kháng bất bạo động bênh vực.

NHÂN LỰC (HUMAN RESOURCES): Một từ được dùng ở đây để chỉ số người hay nhóm người tuân phục “nhà cai trị” (nghĩa là nhóm cai trị đang chỉ huy nhà nước), hợp tác, hoặc hỗ trợ nhóm cai trị thực thi ý đồ của họ. Điều này bao gồm tỉ lệ những người và nhóm người như thế trong quần chúng, và mức độ, hình thái, và sự độc lập của những tổ chức của họ.

     Sức mạnh của người cai trị tuỳ thuộc vào việc có hay không các nguồn nhân lực này là điều đã tạo nên một trong những nguồn sức mạnh chính trị.

VẬT LỰC (MATERIAL RESOURCES): Đây là một nguồn sức mạnh chính trị khác. ‘Từ’ này chỉ tài sản, tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài chánh, hệ thống kinh tế, phương tiện truyền thông, và các phương tiện vận tải. Mức độ nhà cai trị kiểm soát, hay không kiểm soát, các thứ này sẽ giúp quyết định mức độ hay là giới hạn sức mạnh của nhà cai trị.

NHỮNG PHƯƠNG THỨC TẠO THAY ĐỔI (MECHANISMS OF CHANGE): Là những tiến trình theo đó tạo được thay đổi trong những trường hợp đấu tranh bất bạo động thành công. Bốn phương thức tạo thay đổi là cải hoá, thích nghi, cưỡng ép bất bạo động, và phân huỷ. 

PHƯƠNG PHÁP (METHODS): Là những phương tiện cụ thể của hành động trong khuôn khổ kĩ thuật hành động bất bạo động. Hiện có gần hai trăm phương pháp được xếp thành ba loại chính: phản đối bất bạo độngthuyết phục, bất hợp tác (về xã hội, kinh tế, và chính trị), và can thiệp bất bạo động.

BẤT HỢP TÁC (NONCOOPERATION): Một phân loại lớn của những phương pháp hành động bất bạo động bao hàm sự hạn chế có chủ ý, ngưng việc, hoặc rút lại sự hợp tác xã hội, kinh tế, hay chính trị (hay là hỗn hợp các phương pháp này) đối với một người, một hoạt động, một tổ chức, hay một chế độ không được chấp nhận.

     Những phương pháp bất hợp tác được xếp thành những phân loại phụ là bất hợp tác xã hội, bất hợp tác kinh tế (các vụ tẩy chay kinh tế và nhân công đình công), và bất hợp tác chính trị.

BẤT BẠO ĐỘNG (TÔN GIÁO HOẶC ĐẠO ĐỨC) (NONVIOLENCE (RELIGIOUS OR ETHICAL)): Những tín ngưỡng và hành vi thuộc đủ loại mà theo đó bạo lực bị cấm chỉ dựa trên căn bản tôn giáo hay đạo đức. Theo một vài hệ thống tín ngưỡng, thì không những hành động bạo lực bị ngăn cấm mà ngay cả tư tưởng và lời nói hận thù. Một số hệ thống tín ngưỡng còn bắt buộc phải có thái độ và hành vi tích cực đối với kẻ thù, hay ngay cả bác bỏ quan niệm kẻ thù.

     Những người có lòng tin như thế thường có thể tham gia những cuộc đấu tranh bất bạo động cùng với những người thực thi đấu tranh bất bạo động vì những lí do thực tiễn, hoặc họ có thể lựa chọn không tham gia.

HÀNH ĐỘNG BẤT BẠO ĐỘNG (NONVIOLENT ACTION): Một kĩ thuật tổng quát để xúc tiến phản đối, đối kháng, và can thiệp mà không dùng bạo lực.

     Hành động như thế có thể thực hiện bằng (a) các hành vi bỏ lơ – nghĩa là, các tham dự viên khước từ làm những việc mà họ thường làm, theo thông lệ cần phải làm, hoặc bị luật pháp hay điều lệ bắt buộc phải làm; hay là bằng (b) các hành vi tự tiện – nghĩa là, các tham dự viên làm những việc mà thường họ không làm, theo thông lệ không cần phải làm, hoặc bị luật pháp hay điều lệ cấm không được làm; hay là bằng (c) cách hỗn hợp cả hai cách.

     Kĩ thuật này bao gồm nhiều phương pháp rõ rệt được xếp loại thành ba nhóm chính: phản đối và thuyết phục bất bạo động, bất hợp tác, và can thiệp bất bạo động.

CƯỠNG ÉP BẤT BẠO ĐỘNG (NONVIOLENT COERCION): Một phương thức tạo thay đổi của hành động bất bạo động theo đó các đòi hỏi được đáp ứng ngược với ý muốn của đối thủ vì họ đã bị bất hợp tác và thách đố lan tràn lấy mất đi khả năng kiểm soát hoàn cảnh một cách có hiệu năng. Tuy nhiên, các đối thủ vẫn còn tại chức và hệ thống chưa bị phân huỷ.

NỔI DẬY BẤT BẠO ĐỘNG (NONVIOLENT INSURRECTION): Một cuộc nổi dậy chính trị phổ biến bằng bất hợp tác và thách đố quy mô chống lại một chế độ hiện hành bị xem là áp bức.

CAN THIỆP BẤT BẠO ĐỘNG (NONVIOLENT INTERVENTION): Một nhóm lớn các phương pháp hành động bất bạo động, trong một hoàn cảnh xung đột, can dự trực tiếp vào các sinh hoạt và sự điều hành hệ thống của đối thủ bằng những phương tiện bất bạo động. Những phương pháp này được phân biệt với các cuộc phản đối và bất hợp tác có tính biểu tượng. Việc can thiệp gây rối loạn này hầu hết mang tính thể chất (như là xuống đường ngồi) nhưng cũng có thể là tâm lí, xã hội, hoặc chính trị.

PHẢN ĐỐI VÀ THUYẾT PHỤC BẤT BẠO ĐỘNG (NONVIOLENT PROTEST AND PERSUASION): Một nhóm lớn các phương pháp hành động bất bạo động là những hành vi biểu tượng diễn đạt ý kiến phản đối hay cố thuyết phục (như những đêm không ngủ, diễn hành hay làm hàng rào cản). Những hành vi này vượt quá giới hạn phát biểu ý kiến bằng lời nói nhưng chưa phải là bất hợp tác (như là một cuộc đình công) và can thiệp bất bạo động (như xuống đường ngồi).

ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG (NONVIOLENT STRUGGLE): Việc xúc tiến cuộc xung đột quyết liệt bằng những hình thái mạnh mẽ của hành động bất bạo động, đặc biệt là để chống lại những đối thủ kiên quyết và tháo vát có thể phản công bằng đàn áp.

VŨ KHÍ BẤT BẠO ĐỘNG (NONVIOLENT WEAPONS): Những phương pháp đặc trưng của hành động bất bạo động.

NHỮNG CỘT TRỤ CHỐNG ĐỠ (PILLARS OF SUPPORT): Những tổ chức và các khu vực của xã hội đang cung cấp cho chế độ hiện hữu những nguồn sức mạnh cần có để duy trì và bành trướng khả năng quyền lực của chế độ.

     Thí dụ như cảnh sát, các nhà tù, và quân đội cung ứng những trừng phạt, các nhà lãnh đạo đạo đức và tôn giáo cung ứng uy quyền (tính hợp pháp), các nhóm lao động và thương gia và các nhóm đầu tư cung cấp tài nguyên kinh tế, và cũng như thế đối với các nguồn sức mạnh chính trị khác nhận dạng được.

THÁCH THỨC CHÍNH TRỊ (POLITICAL DEFIANCE): Sự áp dụng chiến lược của đấu tranh bất bạo động để làm tan rã một chế độ độc tài và thay thế vào đó bằng một hệ thống dân chủ.

     Sự đối kháng bằng bất hợp tác và thách thức này huy động sức mạnh của dân chúng bị áp bức nhằm hạn chế và cắt đứt các nguồn sức mạnh của nền độc tài. Những nguồn sức mạnh này được cung cấp bởi những nhóm người hay những tổ chức gọi là “những cột trụ chống đỡ”.

     Khi thách thức chính trị được sử dụng thành công thì có thể làm cho một quốc gia trở nên không thể cai trị được bởi nền độc tài hiện tại hay tương lai và do đó có thể bảo tồn được một hệ thống dân chủ chống lại những đe doạ mới có thể có.

NHU THUẬT CHÍNH TRỊ (POLITICAL JIU-JITSU): Một tiến trình đặc biệt có thể vận hành trong một cuộc đấu tranh bất bạo động để thay đổi tương quan lực lượng. Trong nhu thuật chính trị những phản ứng tiêu cực đối với việc đàn áp những người đối kháng bất bạo động bằng vũ lực sẽ được chuyển đổi để vận hành một cách chính trị chống lại các đối thủ, làm suy yếu thế đứng quyền lực của họ và tăng sức mạnh cho thế đứng quyền lực của những người đối kháng bất bạo động. Điều này có thể thực hiện được chỉ khi nào sự đàn áp bằng vũ lực được tiếp nhận bằng thách thức bất bao động liên tục, chứ không phải bằng bạo động hay đầu hàng.  Sự đàn áp của đối thủ lúc đó sẽ được xem như là điều bất lợi nhất cho họ.

     Kết quả có thể là có nhiều thay đổi ý kiến trong những thành phần thứ ba, trong nhóm khiếu nại tổng quát, và ngay cả trong số những người thường ủng hộ đối thủ. Những thay đổi ý kiến này có thể đưa đến việc rút lui sự hỗ trợ cho đối thủ và gia tăng sự hỗ trợ cho những người đối kháng bất bạo động. Kết quả có thể là đối thủ bị đa số quần chúng lên án, chống đối nội bộ trong hàng ngũ đối thủ, và đối kháng gia tăng. Những thay đổi này đôi khi có thể tạo ra những chuyển đổi trọng đại trong tương quan lực lượng có lợi cho nhóm đấu tranh bất bạo động.

     Nhu thuật chính trị không vận hành được trong tất cả mọi trường hợp đấu tranh bất bạo động. Khi không dùng được thì sự chuyển đổi tương quan lực lượng tuỳ thuộc rất nhiều vào mức độ bất hợp tác.

SỨC MẠNH CHÍNH TRỊ (POLITICAL POWER): Là toàn bộ các ảnh hưởng và áp lực sẵn có để sử dụng vào việc quyết định và thực thi những chính sách chính thức cho một xã hội. Sức mạnh chính trị có thể được sử dụng bởi các thể chế chính quyền, hay bởi các nhóm và tổ chức li khai để chống lại chính quyền. Sức mạnhchính trị có thể được trực tiếp áp dụng vào một cuộc xung đột, hoặc có thể được để dành lại như là một khả năng tồn trữ để sử dụng về sau.

CHẾ TÀI (SANCTIONS): Là những hình phạt hoặc trả đũa, bạo động hay bất bạo động, được áp đặt hoặc vì người ta đã không hành động như chờ đợi hay như mong muốn, hoặc vì người ta đã hành động một cách bất ngờ hoặc khi bị cấm.

       Những chế tài bất bạo động so với những chế tài bạo động thì ít khi để trả đũa vì bất tuân phục hơn là đểnhằm đạt một mục tiêu nhất định. Chế tài là một nguồn sức mạnh chính trị.

TỰ LỰC (SELF-RELIANCE): Khả năng quản lí công việc của chính mình, tự mình xét đoán, và đem lại cho bản thân, cho nhóm hay tổ chức của mình, sự độc lập, tự quyết, và tự túc.

CÁC KĨ NĂNG VÀ KIẾN THỨC (SKILLS AND KNOWLEDGE): Sức mạnh của nhà cai trị được hỗ trợ bởi các kĩ năng, kiến thức và khả năng do những người hay nhóm người trong xã hội (nhân lực) cung cấp và bởi sự liên quan giữa những kĩ năng, kiến thức và khả năng sẵn có này với những nhu cầu của nhà cai trị đối với những điều này.

CÁC NGUỒN SỨC MẠNH (SOURCES OF POWER): Đây là những nguồn sức mạnh chính trị. Những sức mạnh này bao gồm: nhân lực, các kĩ năng và kiến thức, những nhân tố không nắm bắt được, vật lực và sự chế tài. Những điều này phát xuất từ xã hội. Mỗi nguồn sức mạnh đều được gắn chặt với và lệ thuộc vào sự chấp nhận, sự hợp tác, và tuân phục của dân chúng và các tổ chức của xã hội. Có được sự cung cấp đầy đủ những nguồn này, nhà cai trị sẽ mạnh. Khi sự cung cấp bị làm cho yếu đi hay bị cắt đứt thì sức mạnh của nhà cai trị sẽ suy nhược hoặc sụp đổ.

ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG CÓ CHIẾN LƯỢC (STRATEGIC NONVIOLENT STRUGGLE): Là đấu tranh bất bạo động áp dụng theo một kế hoạch chiến lược đã được soạn thảo dựa trên cơ sở của sự phân tích về hoàn cảnh xung đột, những ưu và nhược điểm của các nhóm đối thủ, bản chất, các khả năng, và các đòi hỏi của kĩ thuật đấu tranh bất bạo động, và đặc biệt là những nguyên tắc của loại đấu tranh đó. Xem thêm: đại chiến lược, chiến lược, các chiến thuật, và các phương pháp.

CHIẾN LƯỢC (STRATEGY): Là một kế hoạch cho việc xúc tiến một giai đoạn chính yếu, hay một chiến dịch, trong khuôn khổ của một đại chiến lược cho một cuộc xung đột toàn bộ. Một chiến lược là ý niệm căn bản để cuộc đấu tranh của một chiến dịch nào đó phải phát triển như thế nào, và làm thế nào để những bộ phận rời rạc của chiến dịch phải ăn khớp với nhau để đóng góp một cách có lợi nhất cho việc đạt được các mục tiêu.

      Chiến lược vận hành trong khuôn khổ của đại chiến lược. Các chiến thuật và các phương pháp hành động cụ thể được sử dụng trong những hoạt động ở tầm mức nhỏ hẹp hơn nhằm thực thi chiến lược cho một chiến dịch nhất định.

ĐÌNH CÔNG (STRIKE): Là chủ ý giới hạn hoặc ngưng hẳn công việc, thường là tạm thời, để tạo áp lực với các chủ nhân hầu đạt một mục tiêu kinh tế hay đôi khi với chính quyền nhằm thắng lợi trong một mục đích chính trị.

CHIẾN THUẬT (TACTIC): Là một kế hoạch có giới hạn đặt nền tảng trên một quan niệm là làm sao, trong một giai đoạn hạn hẹp của một cuộc xung đột, sử dụng một cách hiệu quả những phương tiện hành động sẵn có để đạt được một mục tiêu có giới hạn rõ rệt. Chiến thuật là để dùng trong việc thực thi một chiến lược rộng lớn hơn trong một giai đoạn của cuộc xung đột toàn bộ.

BẠO LỰC (VIOLENCE): Là đối xử tàn ác trên thân xác người khác gây nên thương tích hay tử thương, hoặc là đe doạ áp dụng cách đối xử như thế, hoặc là bất cứ hành vi nào lệ thuộc vào việc gây thương tích hay tử thương hay là sự đe doạ như vậy.

     Một vài loại bất bạo động có tính tôn giáo hay đạo đức quan niệm bạo lực một cách bao quát hơn nhiều. Định nghĩa hẹp ở đây cho phép những người tin tưởng như thế hợp tác được với những người hay nhóm người được đào tạo trên cơ sở thực tiễn trong việc thực hiện đấu tranh bất bạo động.

 

 

 

 

Categories: Uncategorized

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *