CÁC PHƯƠNG THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG
(Bài 027)

 

…tất cả điều mà tôi khẳng định là mọi thử nghiệm của tôi
đều làm đậm nét niềm tin của tôi vào bất bạo động như là lực lượng mạnh nhất có sẵn cho nhân loại

–M.K.Gandhi

Robert L. Helvey
Chuyển ngữ: Tiểu Thạch Nguyễn Văn Thái, Ph.D.

Đưa một xã hội từ độc tài đến dân chủ là một việc khó làm bất kì lựa chọn con đường nào. Nếu đấu tranh bất bạo động chiến lược là con đường lựa chọn của phong trào đối lập, thì cần phải xét đến những cách khác nhau, hay là những phương thức, theo đó đấu tranh bất bạo động đem lại những thay đổi mong muốn trong tương quan quyền lực giữa nhà cai trị và người bị trị. TS. Sharp nhận dạng được bốn “phương thức thay đổi các tương quan lực lượng”. Những phương thức đó là cải hoá, thích nghi, cưỡng ép, và phân huỷ. Những phương thức này cung ứng một khuôn khổ nhận thức để xét định thông tin về những động năng thay đổi về các tương quan lực lượng. Các loại hành động bất bạo động này cũng hữu ích như là những phương pháp tạo thay đổi hoặc thẩm định những hiệu quả của những cuộc đấu tranh hay chiến dịch bất bạo động trước đó.

    Trong chương này còn có một đoạn dẫn nhập vào các loại hành động bất bạo động bao quát như: Phản đối và thuyết phục, Bất hợp tác, và Can thiệp. Hãy xem Phụ lục, Bài 018 liệt kê 198 phương pháp khác nhau do Gene Sharp nhận dạng được.

Các phương thức

Những ý kiến về đấu tranh bất bạo động chiến lược phải đi từ lí thuyết đến thực hành mới đem lại thay đổi chính trị và xã hội được. Điều quan trọng trong việc chuyển đổi từ ý nghĩ đến hành động là sự lựa chọn bởi đối lập về phương thức, hay là tiến trình, thích đáng để ảnh hưởng thái độ và hành vi của nhà cai trị. Quyết định này lúc bấy giờ lại ảnh hưởng đến sự lựa chọn những phương pháp nhằm đạt được những thay đổi mong muốn trong mối quan hệ giữa nhân dân và chính quyền1. 

Cải hoá

Các phương thức, hay là các tiến trình, được chọn để chống lại đối phương nhằm đem lại thay đổi mô tả dự tính hay là hiệu quả của những hành động bất bạo động ở nhiều cường độ khác nhau. Có thể có những trường hợp mà chế độ có thể được thuyết phục là quyền lợi của họ sẽ được phục vụ bằng cách chấp thuận những khuyến cáo hay là những yêu sách của nhóm đấu tranh. Phương thức Cải hoá có nhiều cái lợi cho nhóm đấu tranh. Việc chế độ nhìn nhận tính hợp lí của mục đích đòi thay đổi có thể làm tăng sự đáng tin tưởng và tính hợp pháp của lãnh đạo đối lập, giảm thiểu những hiểm nguy tiềm năng thường được liên kết với việc đối đầu trực tiếp với nhà nước, và rất quan trọng là bảo tồn được những tài nguyên để sử dụng ở những giai đoạn về sau của cuộc đấu tranh.Tuy nhiên, phương thức này, một phương thức thường bao gồm những hành động có áp lực ở mức độ thấp, thường không đủ khi được sử dụng chống lại các chế độ độc đoán cực đoan. Mặc dù vậy, sự lựa chọn vấn đề tranh chấp và cách thức vấn đề này được xúc tiến như thế nào đôi khi cũng đưa đến thành công ngay cả với những chế độ hết sức tàn bạo.

    Một ví dụ về phương thức cải hoá được sử dụng chống lại nền độc tài quân phiệt đã xảy ra tại Miến Điện và liên quan đến việc giảng dạy tiếng Anh tại các trường tiểu học công lập. Sau khi quân đội cướp chính quyền năm 1962, Tướng Ne Win quyết định Anh ngữ là một sự nhắc nhở đến quá khứ thuộc địa của Miến Điện và tuyên bố là Anh ngữ không được dạy ở cấp tiểu học. Vào lúc đó, Anh ngữ thường được người dân Miến Điện sử dụng như là ngôn ngữ thông dụng thứ hai. Các quan sát viên cũng đưa ra một lí do ác hiểm về sự thay đổi này. Để cô lập dân chúng khỏi bị tư tưởng và ảnh hưởng quốc ngoại, việc khước từ cơ hội học Anh ngữ chỉ là một sự nối dài của những luật kiểm duyệt khắt khe đang được định chế hoá mà thôi. Anh ngữ trong các bài giảng ở đại học cũng bị giới hạn. Sau hơn hai thập kỉ, chế độ bắt đầu thấy rõ là hình thức kiểm duyệt này đã đem lại những hậu quả trầm trọng về kinh tế. Các nhà đầu tư quốc tế miễn cưỡng trong việc thiết lập hãng xưởng ở nơi mà lực lượng lao động và cấp điều hành bậc trung không có khả năng giao tiếp bằng một ngôn ngữ kinh doanh và thương mại quốc tế. Sinh viên đại học cũng không còn được thu nhận ở các trường cấp cao học Tây phương nữa. Sinh viên tốt nghiệp Trường Y khoa Rangoon không còn được chấp nhận hành nghề ở nước ngoài hay là ngay cả không được thu nhận vào các ngành chuyên môn để du học. Sau bao nhiêu năm các nhà hoạt động trong cộng đồng kinh doanh và đấu tranh dân chủ tuyên bố ủng hộ phổ biến rộng rãi việc dạy Anh ngữ, chế độ đã nhượng bộ vì được thuyết phục là sự nhượng bộ có lợi cho chính họ.

    Nên nhớ rằng đấu tranh bất bạo động chiến lược tấn công vào các nguồn sức mạnh, các nỗ lực cải hóa những cột trụ chống đỡ có thể hữu ích. Bước đầu tiên trong tiến trình này là phải bảo đảm những thành viên của các tổ chức và những cơ chế bị nhắm đến được hiểu là họ, như là những cá nhân, không phải là “kẻ thù của nhân dân” và, thực ra, họ sẽ được chào đón, tán thưởng, và nể trọng như là những thành viên hữu dụng trong một xã hội dân chủ. Khi nào mục đích này đạt được thì lúc đó các thành viên của những cơ chế bị nhắm đến sẽ sẵn sàng tiếp nhận thông tin về giá trị của thay đổi chính trị hơn và sau đó dễ đáp ứng những lời kêu gọi hành động hơn.

    Cải hoá là phương thức chủ yếu nhằm bành trướng và tăng cường các lực lượng đấu tranh dân chủ. Sử dụng tuyên truyền khôn khéo để đối chiếu cuộc sống dưới những chế độ dân chủ và chế độ độc đoán và tin tức về các hoạt động bất bạo động hiện hành đang xảy ra trên toàn thế giới rất hữu ích cho những nỗ lực cải hoá. Tin tức về các vụ biểu tình, đình công, tẩy chay, và những hình thức chống đối khác là  những thí dụ ảnh hưởng đến thái độ của dân chúng. Quan trọng hơn cả là “một viễn tượng cho ngày mai” cùng với quan điểm làm thế nào để thực hiện viễn tượng đó cần phải được trình bày cho dân chúng biết.

    Có lẽ lực lượng mạnh mẽ nhất của những nỗ lực cải hoá là chứng tỏ lòng can đảm của những người chống đối chế độ độc đoán. Những hành động can đảm công khai chống lại áp bức sẽ xoá bỏ cái ấn tượng thông thường cho những người đối kháng bất bạo động là những người hèn nhát. Sự can đảm được tất cả mọi người nể trọng dù là sự can đảm được biểu lộ bởi người lính ngoài mặt trận hay bởi những chiến sĩ đấu tranh bất bạo động đối đầu với một chế độ áp bức. Trong một vài trường hợp, sự đau khổ chịu đựng bởi các thành viên của nhóm đối lập có thể ảnh hưởng rất nhiều đến thái độ của cả kẻ áp bức lẫn kẻ bị áp bức. Sự can đảm không luôn luôn được đo lường bằng máu của những cá nhân đổ ra vì lí tưởng đấu tranh. Sự sẵn lòng đương đầu với những hệ quả của một hành động bất chấp sợ hãi là thước đo đích thực của lòng can đảm. Ví dụ, những người kí bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Mĩ năm 1776 đã biểu dương một sự can đảm lớn lao chống lại Vua của nước Anh cũng như những nhà hoạt động dân quyền tham gia vào những cuộc biểu-tình-ngồi để chấm dứt phân biệt chủng tộc vào những thập niên 1950 và 1960.  Cả hai loại hành động thách thức này đã làm cho dân chúng xét đến tính hợp lí của những mục đích của một cuộc đấu tranh mà những người ủng hộ  sẵn sàng chấp nhận mọi hiểm nguy.

Thích nghi 

Đôi khi một chế độ chấp nhận một yêu sách hay đòi hỏi của những lực lượng đấu tranh cho dân chủ, không phải vì nể trọng hay vì lịch thiệp, mà vì chế độ có thể muốn giảm bớt căng thẳng xã hội, muốn ảnh hưởng đến thái độ của những chính quyền quốc ngoại, gây ấn tượng đối với công dân về sự ưu tư của chế độ đối với sự an lạc của người dân, hay là muốn kết thúc một vấn đề tranh chấp trước khi đối phương khai thác vấn đề này cho những mục đích riêng của họ. Chế độ chưa bị cưỡng ép nhưng đành quyết định là quyền lợi của chế độ chưa bị trực tiếp đe doạ và chế độ cũng sẽ không bị làm suy yếu đi khi phải nhượng bộ cho đối phương một vấn đề tranh chấp nào đó. Thực tế là khả năng quyền lực tuyệt đối của chế độ đã bị suy yếu và đã trở nên nhạy cảm đối với những vấn đề có thể làm công chúng thù nghịch chính quyền. Tin tức thường xuyên thông báo những thích nghi có tính tượng trưng của những chính quyền độc đoán. Chính quyền quân phiệt tại Rangoon và các nhà lãnh đạo Trung Cộng thường hay thả một vài tù nhân mỗi khi có những nhân vật quan trọng từ các quốc gia phương Tây đến viếng thăm để thích nghi, phần nào, những đòi hỏi cải cách chính trị. Chính quyền Do Thái thường lệ đưa ra những hành động có tính biểu tượng để thoả nhượng những yêu cầu của chính quyền Hoa Kì về việc đối xử nhân đạo đối với người dân Palestine. Những vấn đề mà các chính quyền chọn để thoả nhượng hầu hết được xem chỉ là những vấn đề gây bực bội, nếu có được thoả hiệp, thì cũng không đe doạ đến quyền lực của họ. Nói cách khác, đó là một quyết định mà họ có thể thực hiện với những mạo hiểm được nhận định là tối thiểu.

    Những thí dụ mới đây về các chính quyền đưa ra những thoả hiệp đối với các nhóm đối lập có thể được xếp loại từ những hành động có tính biểu tượng đến những cuộc bầu cử trông có vẻ tự do. Ví dụ, để đáp ứng lại những chống đối càng ngày càng tăng của công chúng đối với chính quyền Cộng sản Lithuania trong năm 1988, Hội Đồng Tối Cao của chế độ hi vọng giải toả những căng thẳng bằng cách thoả hiệp với phong trào dân chủ đòi hỏi tu chính hiến pháp chính thức hoá ngôn ngữ Lithuania và chấp thuận kéo cờ quốc gia tại một địa điểm lịch sử. Vào khoảng thời gian này thì phong trào dân chủ, dưới sự lãnh đạo của một “đồng tiểu ban”, “Sajudis” và những nhóm phụ trợ khác đã trở nên lan rộng và thành công đến độ những thoả hiệp chỉ có tính biểu tượng của chế độ không còn đủ để thoả mãn nguyện vọng của dân chúng nữa2. Kết quả là đối lập đã gia tăng sự tin cậy của dân chúng như là một lực lượng của sự thay đổi dân chủ.

    Quyết định của Saddam Hussein năm 2002 cho phép lễ tiết tôn giáo là một thí dụ hiện đại khác về thích nghi. Mặc dù Saddam Hussein hoàn toàn kiểm soát xã hội Iraq, ông ta vẫn nhượng bộ những đòi hỏi của những người theo giáo phái Shiite tổ chức một cuộc tuần hành bao gồm cả hằng ngàn người đi đến một thánh địa tôn giáo ở vùng ngoại biên của Baghdad. Hussein đã có thể khước từ đòi hỏi này, và hiển nhiên là ông ta có những lực lượng quân đội và cảnh sát để thực thi một sự cấm đoán như thế, mặc dù vậy ông đã nhượng bộ, có thể vì hi vọng tránh khơi động, một lần nữa, đối lập công khai và bạo động chống lại nền cai trị của ông3.

    Đồng ý với đòi hỏi tự do bầu cử là một trong những thích nghi cực đoan mà một chế độ có thể chấp nhận, mặc dù sự đúng đắn của những cuộc bầu cử như thế hầu như luôn luôn bị bóp méo. Trong hai thập niên cuối cùng của thế kỉ thứ 20, có nhiều thí dụ về những chế độ độc đoán cho phép “tự do” bầu cử trong lãnh địa của họ.

    Cuộc bầu cử năm 1990 tại Miến Điện chứng tỏ các chế độ sắp xếp kết quả sự lựa chọn của người dân như thế nào. Một trong những hành động chính thức cuối cùng của Tướng Ne Win của Miến Điện trước khi rời bỏ quyền lực là kêu gọi những cuộc bầu cử đa đảng. Suốt bao nhiêu tháng trước khi ông về hưu năm 1988 đã có những cuộc biểu tình đòi thay đổi chính trị, gồm cả việc đòi hỏi bầu cử đa đảng. Ne Win cho rằng những cuộc bầu cử đa đảng sẽ làm giảm bớt, nếu không phải là loại bỏ, sự chống đối nền độc tài một cách công khai. Với khả năng lọc lừa đã được chứng minh trong các cuộc bầu cử của chế độ của ông, ông cảm thấy là trong một cuộc bầu cử mà đối lập chia rẽ một cách tuyệt vọng như thế, thì chiến thắng ở thùng phiếu đã được bảo đảm4.

    Điều quan trọng là khi các nhóm chọn những vấn đề có thể thoả hiệp được thì sự thích nghi này nên được diễn đạt theo những ngôn từ làm “đẹp mặt” các nhà cai trị đối với dân chúng, nếu thoả hiệp này được chấp thuận. Đồng thời công chúng phải hiểu rằng việc chính quyền thoả hiệp phản ánh sức mạnh đang phát triển của phong trào bất bạo động và  những thay đổi để cải tiến xã hội không cần đòi hỏi phải đổ máu. Hiệu quả dồn dập của phương thức cải hoá và thích nghi sẽ tăng sức mạnh cho xã hội và chuẩn bị xã hội cho những hành động mạnh mẽ hơn.

    Các cuộc bầu cử thông thường được các chế độ độc đoán sử dụng để thoả hiệp với những đòi hỏi thay đổi chính trị của đối lập. Đáng tiếc là đối với công chúng, các nhà lãnh đạo đối lập thường ngây thơ cho rằng những cuộc bầu cử sẽ tự do và công bằng, dân chúng có thể cưỡng lại được sự hăm doạ của chính quyền, hay là các thẩm sát viên quốc tế có thể bảo đảm được thủ tục kiểm phiếu. Những cuộc bầu cử năm 2000 tại Serbia và tại Zimbabwe năm 2002 là những thí dụ về kết quả khác nhau về bầu cử của những cuộc bầu cử gian lận.

    Tại Serbia, đối lập chính trị thiết lập một hệ thống theo dõi bầu cử từ thùng phiếu đến tận văn phòng bầu cử trung ương tại Belgrade. Họ có một ban nhân viên cho chiến dịch “Hãy Giành Lấy Lá Phiếu” có tổ chức và được huấn luyện kĩ càng và một kế hoạch hành động trong trường hợp chính quyền muốn đánh cắp cuộc bầu cử. Phúc trình sớm của các nhóm đối lập về kết quả bầu cử từ các trạm đếm phiếu phản ánh sự thắng phiếu của dân chủ, và kết quả đã được tuyên bố trước khi kết quả chính thức được đúc kết. Khi chính quyền cho biết là theo sự đếm phiếu của chính quyền thì đối lập đã không thắng, dân chúng đã xuống đường và tuyên bố thắng bầu cử với những cuộc biểu tình quần chúng xảy ra khắp cùng Serbia. Những cuộc biểu tình này đạt đỉnh trong một cuộc tuần hành đến Quốc hội. Những chuẩn bị đầy đủ đến mức độ cảnh sát và quân đội không can thiệp khi chính quyền mới được tuyên bố và tấn phong.

    Cuộc bầu cử của Zimbabwe vào tháng Ba năm 2002 có một kết quả  khác xa. Tại Zimbabwe, Phong Trào Thay Đổi Dân Chủ đối lập thiết kế chiến lược của họ chung quanh chiến dịch “Hãy Giành Lấy Lá Phiếu” và áp lực quốc tế cho một cuộc bầu cử tự do và công bằng. Phong trào ít lưu ý đến “Kế Hoạch B”, kế hoạch phòng hờ trong trường hợp cuộc bầu cử bị nhà cai trị đang tại chức, Robert Mugabe, cướp giựt. Dù vậy, đã có những triệu chứng báo trước là Mugabe không có dự định rời bỏ quyền lực. Được hứa hẹn thực phẩm và tiền bạc, các dân quân thuộc giới trẻ, được vũ trang bằng dùi cui và dao, đã được thành lập và chỉ thị tấn công những người làm việc cho đảng đối lập. Những người ủng hộ Phong Trào Thay Đổi Dân Chủ và những người bị tình nghi là nghĩ đến bỏ phiếu chống lại Mugabe đã bị đánh đập và hăm doạ. Ứng cử viên tổng thống của Phong Trào Thay Đổi Dân Chủ bị bắt về tội phản quốc. Cảnh sát và nhân viên tình báo đã nhúng tay vào việc hăm doạ công chúng. Ngay cả vào ngày bầu cử vẫn có báo cáo là dân chúng đang sắp hàng để bỏ phiếu đã bị đánh đập ngay trước mắt các nhà quan sát quốc tế. Các quan sát viên từ những quốc gia Âu châu đã bị trục xuất. Các trạm bầu cử được dời đi nơi khác đúng vào ngày bầu cử, một thủ thuật của chính quyền làm cho dân chúng ngơ ngác không biết phải bỏ phiếu ở chỗ nào. Hằng ngàn phiếu không được tính khi kết quả được đưa vào bảng tổng kết. Mugabe tuyên bố thắng. Không có một kế hoạch chi tiết và cũng không có bất cứ khả năng nào để thi hành sự uỷ thác bởi lá phiếu của người dân, Phong Trào Thay Đổi Dân Chủ không có cách nào khác ngoài việc giới hạn phản ứng của mình vào việc tuyên bố cuộc bầu cử không công bằng cũng chẳng tự do và vào việc đòi hỏi một cuộc bầu cử khác. Không có gì bảo đảm là một cuộc bầu cử mới sẽ đem lại kết quả khác hơn.

    Bài học ở đây là những cuộc bầu cử này quá quan trọng đối với chế độ để họ chịu thua bởi vì sự thất bại này có nghĩa là họ mất đi tính hợp pháp đối với cả quốc nội lẫn với cộng đồng thế giới. Cũng vì cùng những lí do như thế mà đối lập dân chủ không thể thua trong các cuộc bầu cử. Cần phải có những sửa soạn để bảo đảm là dân chúng được chuẩn bị để hợp thức hoá lá phiếu của mình tại thùng phiếu với những biện pháp được chuẩn bị cẩn thận hầu ngăn chặn các nỗ lực gian lận kết quả bầu cử của chính quyền.

Cưỡng ép 

Cải hoá và thích nghi dành cho kẻ áp bức sự lựa chọn chấp nhận hay khước từ những yêu cầu hay những đòi hỏi của các đối thủ bất bạo động mà ít bị hay không bị những hậu quả tức khắc. Còn phương thức cưỡng épthì bắt buộc phải khuất phục trước những đòi hỏi đưa ra cho chính quyền. Đến lúc mà cưỡng ép đã có hiệu lực thì quyền lực thực sự của chính quyền đã bị xói mòn rất nhiều rồi. Các nhóm đối lập cần hiểu rằng những cố gắng cưỡng ép quá sớm có thể làm cho dân chúng mất tin tưởng ở họ. Những đòi hỏi có tính cưỡng ép thách thức chính sự tồn tại của một chính quyền áp bức chỉ nên đưa ra sau khi đã có kế hoạch cẩn thận và một sự phân tích khách quan về xác suất thành công đã được thực hiện. Nếu sự ép buộc tuân theo các đòi hỏi không được bảo đảm thì cần nên xét đến việc hoãn lại hay là điều chỉnh các yêu sách.

    Các chính đảng và các nhóm sinh viên thường hay đưa ra những “đòi hỏi” không thể thực hiện được. Tốt hơn là nên thông báo cho chế độ biết những mục tiêu của tổ chức, và chỉ sau khi đã động viên được dân chúng, nên phát triển những khả năng thiết kế chiến lược của nhóm và xói mòn các nguồn sức mạnh của chế độ thì lúc bấy giờ những mục tiêu này mới nên trở thành là những đòi hỏi rõ rệt. Nếu, ví dụ, có một “đòi hỏi” cho một cuộc “bầu cử tự do và công bằng”, thì những chế tài nào sẽ được áp đặt lên chế độ nếu chế độ bác bỏ đòi hỏi đó?

    Cưỡng ép thành công khi các đòi hỏi của đối lập được thoả mãn ngược với ý muốn của chế độ. Trong thí dụ về những cuộc bầu cử năm 2000 tại Serbia, các nhóm đối lập tuyên bố thắng dù chế độ Milosevic loan báo là cần phải có bầu cử đợt hai. Dự tính trước là chế độ sẽ gian lận bầu cử nên có rất nhiều chuẩn bị để giành quyền lực bằng đấu tranh bất bạo động chiến lược đã được hoàn tất trước khi bầu cử. Hằng trăm ngàn người tuần hành đến chiếm toà nhà Quốc hội, nhất quyết lật đổ nhà độc tài ra khỏi quyền lực. Milosevic không ở trong vị thế có thể chống lại những người lật đổ ông ta được. Những cột trụ chống đỡ chủ yếu của ông ta đã tan biến thành mây khói. Cảnh sát từ chối duy trì các chướng ngại vật chặn đường được thiết lập để ngăn cản những người biểu tình dân sự tiến vào Belgrade, và các lực lượng quân đội từ chối can thiệp giúp Milosevic, nêu lí do bầu cử là một vấn đề chính trị và không phải là điều đòi hỏi sự can thiệp quân sự. Sự rút lui của hai cột trụ chống đỡ này là kết quả của những nỗ lực dày công suốt thời gian mấy tháng trời thuyết phục các thành phần quân đội, cảnh sát và chính quyền là thay đổi dân chủ sẽ không làm giảm tầm quan trọng của họ hay đưa đến kết quả thanh trừng cấp lãnh đạo. Milosevic ý hội được rất nhanh là ông ta đã trở nên mất hết quyền lực.

    Dù có những trường hợp về các đe doạ của phương thức cưỡng ép đã đem lại chiến thắng cho các nhóm đối lập, những đe doạ mà không có khả năng hành động đáng tin cậy sẽ phương hại đến bất cứ phong trào nào, như đã từng xảy ra tại Zimbabwe năm 2002 khi hai lần kêu gọi tổng đình công đã không được đáp ứng. Phải tốn nhiều tháng để thiết kế và phối hợp trước khi thực hiện được một cuộc đình công khác thành công. Cố cưỡng ép mà không có khả năng áp đặt những chế tài đã hăm doạ có thể đưa đến kết quả là mất đà tiến của cuộc đấu tranh dân chủ; sự hỗ trợ năng động của dân chúng có thể hao mòn; những người ủng hộ quốc tế có thể đặt câu hỏi về khả năng tồn tại của phong trào. Khẩn thiết cần phải duyệt lại các thẩm định về các khả năng trong lúc thiết kế và thi hành các chiến dịch bất bạo động quan trọng để tránh những hậu quả tai hại cho phong trào. 

Phân huỷ 

Như đã nói trước đây, khả năng của các nhóm đối lập cưỡng ép được nhà cai trị là một phản ánh của một sự tái phân phối có phẩm chất về quyền lực đã xảy ra rồi. Một khi đối lập nhận ra được là cán cân lực lượng đã nghiêng về phía mình thì chế độ cần phải được tấn công trên một mặt trận rộng lớn hơn bằng cách sử dụng những phương pháp mạnh hơn của bất hợp táccan thiệp. Nếu những cuộc tấn công này được kéo dài, thì chế độ sẽ phân huỷ, vì các nguồn sức mạnh cần có để duy trì nền cai trị không còn nữa.

    Nếu sự phân huỷ của chế độ được đối lập xem là cần thiết thì bắt buộc không được giảm cường độ và tầm mức của những hành động bất bạo động cho đến khi nào chế độ sụp đổ. Một sự mất đà của đối lập, vì bất cứ lí do gì, cũng có thể đem lại cho chế độ một cơ hội để tái khẳng định quyền lực của mình. Cũng giống như giai đoạn “khai thác và bám riết” của một chiến dịch quân sự, một giai đoạn xảy ra khi sự liên tục của các vị trí phòng thủ đã bị đứt đoạn, và kẻ địch muốn rút lui, thì cuộc tấn công phải được đeo đuổi với một cường độ mạnh mẽ nhất và một sự sẵn sàng chấp nhận những mạo hiểm cao hơn để sớm kết thúc chiến dịch. Không có một kế hoạch chiến lược, một lực lượng quân sự có thể không có khả năng phản ứng nhanh kịp để tăng viện chỗ đã bị phá vỡ. Điều này cũng đúng với đấu tranh bất bạo động.

Những phương pháp của đấu tranh bất bạo động

Những hành động bất bạo động hỗ trợ và phản ánh các phương thức tạo thay đổi bất bạo động. Những phương pháp đấu tranh bất bạo động sẵn có để cho đối lập sử dụng chống lại một đối thủ thì vừa nhiều vừa mang nhiều hình thái khác nhau. Trong cuốn Chính Trị của Hành Động Bất Bạo Động, Sharp nhận dạng được gần hai trăm (Bài 018 và 034) phương pháp, và khuyến cáo là bản liệt kê này không hoàn toàn đầy đủ. Đúng ra thì tư duy sáng tạo được khuyến khích để điều chỉnh phương pháp cho đúng với hoàn cảnh.

    Những hành động bất bạo động chống lại một chế độ áp bức thường bị trả thù bằng bạo lực. Đối lập phải chờ đợi bị đánh đập, tra tấn, tù tội, và các trừng phạt khác (vũ lực, kinh tế, và xã hội).Tuy nhiên, khi chính quyền phản ứng như vậy, thì quảng bá rộng rãi những hành động như thế thường có thể được đối lập sử dụng để tăng cường sự hỗ trợ của dân chúng đối với phong trào dân chủ và làm suy yếu chế độ bằng cách lột trần sự tàn bạo và bằng cách chất vấn tính hợp pháp của chế độ. Trong các phong trào suốt thế kỉ vừa qua, bị bắt bớ và tù tội là dấu ấn của danh dự.

    Việc chọn lựa những phương pháp đấu tranh bất bạo động thích hợp tuỳ thuộc vào những mục tiêu mà việc sử dụng những phương pháp này muốn đạt được. Đôi khi một phong trào, hay là các tổ chức, có thể chọn một phương pháp dựa vào sở thích hay vào khả năng của phương pháp, rồi, có thể chọn hay có thể không chọn một mục tiêu cho hành động bất bạo động. Đó là lối “đặt cái cày trước con trâu”. Lí tưởng là người ta trước tiên nên xét định các mục tiêu, rồi duyệt lại bảng liệt kê các phương pháp để chọn những phương pháp nào có thể cung cấp những phương tiện thích hợp nhất trong việc tranh thủ các mục tiêu chiến thuật và chiến lược này. Để cho việc xét định được dễ dàng, các phương pháp được chia thành ba phân loại lớn. Các phân loại này là phản đối và thuyết phục, bất hợp tác, và can thiệp.

Phản đối và thuyết phục 

Các hành động phản đối và cố gắng thuyết phục cung cấp một tín hiệu cho chế độ là các lực lượng đấu tranh cho dân chủ có những bất đồng ý kiến và phản đối nghiêm trọng đối với một số hành động và chánh sách của chính quyền. Các phản đối này chủ yếu có dự tính biểu tượng. Hơn nữa, những hành động này cũng còn có ý thông báo cho công chúng biết là phong trào đối lập bất bạo động đang thách thức chính quyền về những lạm dụng được xác định rõ ràng. Dù là những hành động phản đối và cố gắng thuyết phục có thể được sử dụng thuận lợi ở bất cứ giai đoạn nào của phong trào bất bạo động chiến lược, nhưng thông thường thì chúng được đưa sớm vào trong cuộc đấu tranh, ngay cả vào lúc mới khởi sự giới thiệu với quần chúng.

    Bất kì hình thức phản đối và thuyết phục nào đã được chọn thì các hành động cũng cần được các phương tiện truyền thông đại chúng thông tin rộng rãi. Những cuộc biểu tình hay những bức thư phản đối sẽ có ít hoặc không có hiệu quả nào nếu không được ai biết đến. Một thí dụ kinh động về phản đối và thuyết phục là vụ tự thiêu của một số sư sãi chống đối chính quyền được Mĩ ủng hộ tại Sài-gòn. Những hành động tự vẫn này làm nhiều người suy nghĩ tại sao lại có người chịu đựng một cái chết đau đớn như thế để làm phương tiện phản đối chính trị. Mục đích của sự hi sinh đã đạt được, phần lớn là vì những người tổ chức đã mời các cơ quan báo chí quốc tế đến để thông tin và chụp hình diễn biến.

    Những phương pháp này không tạo những cuộc tấn công trực tiếp vào các nguồn sức mạnh của đối phương, được thảo luận ở Bài 024, nhưng là những cuộc tấn công gián tiếp nhằm phơi bày những hành động của chế độ cho công chúng phán xét, biểu lộ phản đối những hành động đó và cố sức thuyết phục chế độ và những người khác là cần phải có thay đổi. Đấu tranh bất bạo động mang nhiều ý nghĩa hơn, nhiều hơn rất nhiều, những biểu lộ của sự bất mãn.

Bất hợp tác

Bất hợp tác là loại gồm những phương pháp mạnh nhất sẵn có cho các phong trào đối lập. Chọn lựa và thiết kế khôn ngoan cho loại những hành động này sẽ gia tăng xác suất cắt đứt những nguồn sức mạnh của chế độ. Những nguồn sức mạnh của chế độ (như uy quyền, nhân lực, kĩ năng và kiến thức, vật lực, những nhân tố không nắm bắt được, và các chế tài) có thể bị tấn công bởi toàn thể dân chúng, chứ không phải chỉ bởi những trai tráng ở tuổi quân dịch. Không có chính quyền nào có thể tồn tại mà không có sự hợp tác của dân chúng. Thông điệp mà những phương pháp bất hợp tác muốn gửi đi là “chúng tôi, nhân dân, sẽ không còn giúp chính quyền áp bức công dân nữa.” Mục đích là làm cho chính quyền khó sinh hoạt. Tác dụng lớn nhất của bất hợp tác sẽ đạt được khi những hành động được chọn lựa hỗ trợ chiến lược bất bạo động và được phối trí thay vì bừa bãi.

    Đi đôi với các chiến dịch bất hợp tác tại quốc nội đánh vào các cột trụ chống đỡ, cần phải có một nỗ lực đồng bộ tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế nhằm áp đặt các chế tài tập trung vào việc rút lui hợp tác. Bất hợp tác ở cấp quốc tế cũng như tại quốc nội có thể giúp những người ủng hộ thay đổi chính trị. Những phương tiện cắt đứt sự hỗ trợ của quốc tế gồm có những chiến dịch như là làm nhụt chí hay cấm đầu tư hay nhập cảng, phản đối các chính sách của chế độ trên các diễn đàn quốc tế, giới hạn các yêu cầu chiếu khán bởi các giới chức chính phủ, giới hạn công dân mình du lịch những nơi có chế độ áp bức, và giới hạn ngoại viện vào những dự án do các cơ quan phi chính phủ quản lí trực tiếp hỗ trợ các nhu cầu nhân đạo mà thôi. 

Bất hợp tác xã hội

Mọi người đều có thể thực hành bất hợp tác xã hội. Tránh liên lạc xã giao với những thành phần đối tượng của chế độ có thể gây kinh hoàng cho những giới chức này và những người trong gia đình họ. Giai cấp thượng lưu của xã hội có thể ngưng mời các giới chức của chế độ tham dự các lễ hội và từ chối tham dự các buổi giao tế được chính quyền bảo trợ và của tư nhân mà các giới chức thường được mời tham dự. Con cái và bà con của các giới chức của chế độ có thể bị gạt khỏi những danh sách được mời tham dự các lễ hội do láng giềng hay các tổ chức phi chính phủ tổ chức. Phụ huynh có thể ngăn cản con cái gặp mặt hay giao lưu với con cái của các giới chức của chính quyền. Lánh mặt gửi đi một thông điệp là người dân không thể chấp nhận những người ủng hộ chế độ. Tuy nhiên, điều này cần phải được áp dụng cẩn thận và chính xác. Nếu được sử dụng không đúng cách thì điều này có thể gây trở ngại cho những nỗ lực đang diễn tiến cố chuyển những người ủng hộ chế độ sang hàng ngũ đối lập. Các diễn biến xã hội và thể thao đem lại uy tín cho chế độ có thể bị tẩy chay. Ngay cả việc mang trang phục mà chế độ không tán đồng cũng là một hành vi bất hợp tác. Những người đã trở thành đối tượng được chọn lựa sẽ nhanh chóng ý hội được thông điệp mà hành động bất hợp tác như thế nhắn gửi.

    Trong thời Mĩ bị thuộc địa, vị toàn quyền Massachusetts đã có một lần than là ông không hơn gì một tù nhân mặc dù ông đại diện vương quyền Anh quốc. Không có ai tuân phục ông, nghĩa quân địa phương tảng lờ như không biết ông, lệnh và chỉ thị đều không được đếm xỉa đến, và những thành viên của giáo đoàn đều tránh mặt ông ta. 

Bất hợp tác kinh tế

Dựa trên sự kiện hiển nhiên là mọi chính quyền đều cần có lợi tức để cung cấp các dịch vụ mà công chúng mong đợi, bất hợp tác kinh tế như là một phương pháp đấu tranh bất bạo động chiến lược được dự tính để tấn công vào sự hỗ trợ chính quyền bằng cách phá bỏ hay giảm thiểu những khích lệ về kinh tế dành cho những người ủng hộ chính quyền. Bằng cách khước từ hay giảm bớt các phương tiện cần có để mua sắm hàng hoá và các dịch vụ để thi hành các chính sách, bất hợp tác kinh tế sẽ làm suy yếu khả năng của chính quyền duy trì sự trung thành của những người ủng hộ mình.

    Không trả thuế hay là trả ít thuế (“tránh thuế”) là một thí dụ bất hợp tác kinh tế, cũng như việc giới tiêu thụ tẩy chay các sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp lợi tức cho chính quyền, những cuộc đình công giúp tạo bất ổn về kinh tế, hay rút lui không kí thác tiền vào các ngân hàng tạo nên một cơn khủng hoảng về tài chánh mà các nhà đầu tư quốc tế không thể làm ngơ được. Thêm vào đó, các công ti quốc tế, các hiệp hội mậu dịch và các tổ chức phi chính phủ quốc tế đôi khi có thể được thuyết phục rút lui sự hợp tác kinh tế với các chính quyền đối tượng, làm cho nền kinh tế của những chính quyền này càng suy yếu hơn nữa. Bất ổn về kinh tế đưa đến không những chỉ sự suy yếu của các cột trụ chống đỡ cho chính quyền, mà còn làm giảm giá trị và giới hạn các nỗ lực của chính quyền phản công chống lại những nỗ lực bất hợp tác chính trị của đối phương — một đóng góp không phải là không đáng kể vào các mục tiêu chiến lược tổng quát của công cuộc đấu tranh bất bạo động.

    Trong một cuộc đấu tranh bất bạo động chiến lược, điều quan trọng là phải truy nguyên sự lưu thông của tiền tệ có giá trị lâu bền ra vào chính quyền. Mục đích là để tìm ra những điểm dễ bị tấn công bằng các phương pháp bất hợp tác kinh tế dọc theo dòng lưu thông này. Trong một vài trường hợp, tiền tệ có giá trị lâu bền bắt nguồn từ việc bán các tài nguyên thiên nhiên, và từ các hàng hoá và dịch vụ được bán ra nhờ giá lao động rẻ. Đối với xuất cảng thì những đối tượng hữu hiệu nhất cho việc sử dụng các phương pháp bất hợp tác kinh tế là các địa điểm hàng được bán ra, còn những điểm dễ tấn công nhất đối với các vụ nhập cảng vào cho chế độ là những địa điểm xuất phát. 

Bất hợp tác chính trị 

Dù bất cứ hành động bất hợp tác nào hay tất cả các hành động bất hợp tác, như là thành phần của một phong trào bất bạo động chiến lược, chống lại một chế độ, đều mang bản chất “chính trị”, nhưng Gene Sharp đã tìm thấy ba mươi tám hành động bất hợp tác chính trị rõ rệt trong số “198 Phương Pháp Đấu Tranh Bất Bạo Động” của ông (Xem Phụ lục, Bài 018). Những hành động này chủ yếu nhắm phủ nhận uy quyền, một nguồn sức mạnh then chốt của một chính quyền hay là của một quyền lực xâm lược. Một cái lợi phụ thuộc của bất hợp tác bất bạo động là những phương pháp này còn có khuynh hướng làm tăng sức mạnh xã hội dân sự. Các tổ chức tranh thủ được kinh nghiệm và tin tưởng vào khả năng hành động của họ chống lại chế độ, đơn phương hay là cùng chung với những nhóm khác có tư tưởng giống nhau.

     Bất hợp tác chính trị là một sự tấn công trực tiếp vào chính quyền. Các lời tuyên bố, những bản tuyên ngôn, và các tài liệu khác phủ nhận uy quyền mạo nhận và do đó phủ nhận tính hợp pháp của một chế độ có thể được sử dụng để thuyết phục dân chúng là chế độ không có quyền hành sử uy quyền. Những hành động phản đối này lúc này sẽ được tiếp tục bằng các vụ tẩy chay các cơ chế của chính quyền, những vụ công chức trì hoãn công việc, và hằng hà sa số cơ hội bất tuân dân sự dành cho dân chúng. Đây là những hành động mà nếu được thi hành ở tầm mức rộng lớn và liên tục thì có thể vô hiệu hoá hay ngay cả có thể phân huỷ quyền lực của cả một chế độ áp bức.

Can thiệp 

Những hành động bất bạo động có dự tính hay hiệu năng phá vỡ những tập quán về hành vi, những chính sách, các mối tương quan hay các cơ chế hiện hành đều là những hành động can thiệp. Những hành động này cũng còn có hiệu năng tạo nên những tập quán về hành vi, những tương quan mới hay ngay cả tạo ra những cơ chế mới. Bởi vì những phương pháp này trực tiếp thách thức nguyên trạng hơn, nên chúng làm cho dân chúng thấy rõ và ngay tức khắc vấn đề tranh chấp được nêu lên, trực tiếp thách thức uy quyền hơn, và có thể đưa đến một giải pháp nhậm lẹ hơn. Mặt khác, những hành động can thiệp có thể đưa đến kết quả đàn áp tức tốc và ác liệt hơn là những hành động chỉ nhằm phản đối và bất hợp tác.

    Lịch sử cận đại của Hoa Kì đưa ra những thí dụ về sự can thiệp của thành phần thứ ba trong việc thay đổi các tập quán về hành vi và các liên hệ xã hội hiện hành hữu hiệu như thế nào. Những cuộc biểu-tình-ngồi tại các quầy hàng ăn trưa thời phong trào dân quyền tại Hoa Kì là những hành động rất nổi bật và hữu hiệu đã trực tiếp đả kích và nhanh chóng chấm dứt phân biệt chủng tộc ở các tiệm ăn. Hơn nữa, những chiến dịch này còn đưa ra một tiếng vang cần thiết và một ý thức về sự khẩn trương cần có cho việc ban hành các luật giải quyết vấn đề rộng lớn hơn về phân biệt chủng tộc. Hằng bao nhiêu thập kỉ đã trôi qua từ khi những hành động này xảy ra, cho nên ngày nay người ta đôi khi quên đi các hành động bạo động trong những cuộc biểu-tình-ngồi này. Biểu-tình-ngồi đã khích động không biết bao nhiêu là vụ đánh đập, cảnh sát thả chó ra cắn, và nhiều hành động vũ lực khác. Hành động vũ lực này, thường do chính quyền gây ra, đã khởi động nhu thuậtchính trị, trong ý nghĩa là sức mạnh áp dụng bạo lực chống lại những người biểu tình ôn hoà đã thúc đẩy những lực lượng còn mạnh mẽ hơn đòi hỏi công lí, hành động chống lại phân biệt chủng tộc5. Trong một cuộc đấu tranh bất bạo động chiến lược chống lại một chế độ độc đoán, thì lực lượng đòi công lí nhân danh nhân dân này có thể không phải là chính quyền quốc gia, nhưng có thể nhờ cộng đồng quốc tế tăng viện.

     Một thí dụ về sự can thiệp của quốc tế là sự xuất phát những nhân viên của Lữ Đoàn Hoà Bình Quốc Tế đến Aceh, Nam Dương vào tháng Mười Hai năm 2002. Những nhân viên này sẽ phải tháp tùng những người đại diện cho các quan sát viên nhân quyền và những người làm việc hỗ trợ nhân đạo đang gặp phải nguy hiểm bị tấn công bằng vũ lực bởi những người chống lại phong trào đòi thay đổi tình trạng chính trị ở Aceh. Đồng thời, sự hiện diện của những quan sát viên quốc tế đã ngăn chặn bạo động chống lại những giới chức thẩm quyền của chính quyền Nam Dương bởi những thành viên của các nhóm ủng hộ tự trị và độc lập. Một thí dụ khác về sự can thiệp của quốc tế là việc sử dụng những người ngoại quốc như là những vệ binh bất bạo động để bảo vệ nông dân Palestine khỏi bị những dân định cư Do Thái và các Lực Lượng Phòng Vệ Do Thái tấn công.

    Những hành động can thiệp có thể làm suy yếu và có thể thúc đẩy nhanh chóng sự sụp đổ của những cột trụ chống đỡ của chế độ. Với một chiến lược được suy nghĩ thấu đáo, thì những kế hoạch hỗ trợ có thể được điều chỉnh nhanh chóng để khai thác những cơ hội hiện tại. Không có một chiến lược và các kế hoạch tiên đoán các nhu cầu điều chỉnh, thì có thể mất đà tiến của cuộc đấu tranh. Một sự mất đà như thế sẽ cung ứng cho đối phương đủ thời gian để phản ứng và tái phối trí. Ngược lại, nếu các cơ chế của chính quyền nhận thấy là những hành động can thiệp là một đe doạ trực tiếp đến sự tồn vong của họ thì các thành viên của những cơ chế này sẽ nhất định tập họp lại chung quanh lãnh đạo và chuẩn bị cho một cuộc chiến “một mất một còn”. Muốn giảm thiểu nguy cơ hay tác dụng của tâm trạng bị bao vây này có thể xảy ra ảnh hưởng đến những người từng ủng hộ chế độ, thì cần phải xét đến nỗ lực tuyên truyền nhắm vào những nguồn sức mạnh này và phải thực hiện những nỗ lực này cho sớm.

______________________________

 

CƯỚC CHÚ

1 Muốn có một cuộc thảo luận chi tiết hơn về các phương thức và phương pháp, y/c xem Chính Trị của Hành Động Bất Bạo động của Gene Sharp, Tập II và III.

2 Grazina Miniotaite, Đối Kháng Bất Bạo Động tại Lithuania: Một Câu Chuyện Giải Phóng Ôn Hoà [Nonviolent Resistance in Lithuania: A Story of Peaceful Liberation], (Boston: Viện Albert Einstein, 2002), 30.

3 Theo báo cáo thì Saddam thoả thuận cho tuần hành với điều kiện là không được trương biểu ngữ hoặc các biểu tượng. Những người tuần hành tuân theo, nhưng họ đã “dậm chân gây tiếng động lớn có thể nghe cách xa đó cả một dãy phố.”

4 Sau khi lúc đầu khước từ ý kiến bầu cử đa đảng, chính quyền Rangoon đồng ý tổ chức vào tháng Năm 1990. Trước sự hết sức ngạc nhiên của chính quyền, Liên Minh Dân Chủ Quốc Gia đã thắng với 80 phần trăm số phiếu. Chế độ liền phủ nhận kết quả bầu cử và lại đàn áp đối lập trở lại.

5 Nhu thuật chính trị được định nghĩa một cách ngắn gọn như là “Một tiến trình đặc biệt có thể vận hành trong thời gian của một cuộc đấu tranh bất bạo động để thay đổi những tương quan lực lượng. Trong nhu thuật chính trị những phản ứng tiêu cực đối với sự đàn áp vũ lực của đối phương chống lại những người đối kháng bất bạo động dội ngược trở lại chống lại đối phương, làm suy yếu vị thế quyền lực của họ và tăng sức mạnh cho những người đối kháng bất bạo động.” Muốn có một định nghĩa đầy đủ hơn, y/c xem Phụ lục 1, “Bảng Liệt Kê Những Từ Quan Trọng trong Đấu Tranh Bất Bạo Động”.

Categories: Uncategorized

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *